Việc tưới cây cà phê trong thời kỳ nở hoa là rất quan trọng ở Tây Nguyên. Nếu không được tưới một cách đầy đủ và đúng cách, hoa sẽ nhỏ và dễ bị héo. Hoa sẽ không phát triển thành trái cà phê khỏe mạnh. Điều này có nghĩa là sản lượng thấp hơn và thu nhập thấp hơn. Không có gì ngạc nhiên khi nông dân sử dụng hầu hết nguồn nước ngầm ở Tây Nguyên để tưới cho cà phê vào cuối mùa khô, do đó người dân địa phương phải đối mặt với tình trạng thiếu nước trầm trọng vào tháng Ba và Tư.

“Ở đợt tưới đầu tiên, chúng tôi thường có đủ nước để tưới, nhưng đối với đợt thứ hai và thứ ba, chúng tôi phải chờ đến mười ngày để nước hồi lại giếng. Giếng của chúng tôi phải được khoan thêm một vài mét mỗi năm vì đây là cách duy nhất để chúng tôi cung cấp đủ nước cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của gia đình “- ông Nam, nông dân từ huyện Krông Buk, tỉnh Dak Lak cho biết.

Đồng thời nhu cầu toàn cầu về Robusta sẽ tăng khoảng 30% vào năm 2025, và Việt Nam – nhà xuất khẩu Robusta lớn nhất thế giới – dự kiến cũng sẽ tăng sản lượng. Làm thế nào có thể thực hiện được việc đó nếu như sự khan hiếm nước đã ảnh hưởng rất nhiều đến khu vực?

Sau khi thực hiện một loạt các nghiên cứu cơ bản, các chuyên gia của HRNS và các đối tác từ NESTLE, SDC và Đại học Neuchâtel đã tìm ra giải pháp. Thay vì để nước mưa chảy đi mất ra suối và sông, có một cách để chuyển hướng nó ngay vào giếng của nông dân thông qua một hệ thống được gọi là Hệ thống Thu nước Nhân tạo (MAR). Các hệ thống tương tự đã được thực hiện thành công ở Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Nam Phi và Úc.

Ý tưởng của của hệ thống này rất đơn giản. Nước chảy xuống sườn dốc qua kênh nhỏ vào một cái thùng. Thùng chứa một bộ lọc làm thủ công, bao gồm một vài lớp sỏi và cát để loại bỏ các tạp chất ra khỏi nước. Từ bể lọc, nước được đưa vào một đường ống xuống trong giếng, bổ sung cho tầng chứa nước ngầm. Hệ thống này có rất nhiều lợi ích. Trước hết, việc lắp đặt là khá rẻ và bất cứ người nông dân nào cũng có thể chi trả được. Thứ hai, hệ thống này rất đơn giản và được lắp đặt theo nguyên tắc trọng lực để nông dân không phải sử dụng nhiều năng lượng để vận hành. Và cuối cùng, MAR không có các bộ phận cơ khí nên dễ bảo trì.

Ông Nam từ huyện Krông Buk là một trong sáu người tiên phong quyết định tham gia dự án MAR. Toàn bộ quá trình cài đặt chỉ mất một vài ngày:

“Chúng tôi đào một cái rãnh, lắp đặt các ống dẫn và dùng nhiều lớp đá và cát lấp đầy thùng để tạo ra một bộ lọc”

Để giám sát hiệu quả của MAR trong các điều kiện khác nhau, HRNS bố trí lắp đặt mô hình này ở sáu địa điểm khác nhau. Tất cả các trạm thí điểm sẽ được nhóm chuyên gia giám sát đánh giá lượng nước thu được, chất lượng nước và hiệu quả của các bộ lọc.

Nếu các trạm thí điểm MAR đưa đủ lượng nước sạch trở lại các hồ chứa ngầm, ngày càng có nhiều nông dân sẽ được khuyến khích thực hiện sáng kiến của HRNS, tăng sản lượng cà phê và làm cho trạng thiếu nước chỉ còn là câu chuyện xảy ra trong quá khứ.