Đó có thể là điều cuối cùng mà các đại biểu của Hội nghị Cà phê Quốc tế lần thứ 23 dự kiến ​​sẽ được nghe khi ông Giám đốc  khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Hanns R. Neumann Stiftung, Tiến sĩ Dave D’haeze chỉ ra:

“Philippin có tiềm năng trở thành con hổ thứ ba trong ngành cà phê ở Đông Nam Á nếu được diễn đàn cà phê quốc tế ủng hộ”

Trong tình hình thiếu hụt nguồn cung cà phê toàn cầu lên đến 30 triệu bao (60kg/bao) dự kiến ​​vào năm 2020, ngành cà phê phải tìm ra các giải pháp  để tăng sản lượng ở các nước đang phát triển sản xuất cà phê.

Từ trước tới nay, Việt Nam đã là nước xuất khẩu  cà phê nhân chính ở Đông Nam Á. Ngành cà phê Việt Nam có mức tăng trưởng đáng kể trong vòng 20 năm qua, đạt mức bình quân 2,5  tấn / ha nhờ sự hỗ trợ tích cực của chính phủ cho nông dân, nhờ việc tập huấn các kỹ thuật sản xuất thâm canh và giới thiệu các giống mới có hiệu quả cao của các viện nghiên cứu địa phương. Mặc dù diện tích trồng cà phê không còn được mở rộng ở Việt Nam, song sản lượng vẫn sẽ tiếp tục tăng do chương trình tái canh của nhà nước nhằm thay thế các vườn cây già cỗi bằng các giống mới trong hai thập kỷ tới. Hiện tại, mới chỉ có 10% diện tích đã được tái canh.

Một quốc gia khác có thể ảnh hưởng đến sản lượng cà phê của khu vực là Indonesia, hiện tại nước này đang có  diện tích cà phê gấp đôi Việt Nam, nhưng  chỉ sản xuất được một nửa sản lượng Việt Nam. Các dự án HRNS chứng minh rằng bằng cách áp dụng một loạt các phương pháp nông nghiệp đã được chứng minh là hiệu quả ở Việt Nam, nông dân Indonesia có khả năng tăng gấp đôi năng suất hiện tại. Hầu hết các phương pháp này đều được gọi là các biện pháp không hối tiếc, không đòi hỏi đầu tư hoặc đầu tư rất ít nhưng vẫn giúp nông dân chủ động ứng phó được với các thay đổi về điều kiện khí hậu. Ví dụ, một lớp cỏ phủ đơn giản, tự nhiên có thể làm tăng lượng phân bón cho đất, cải thiện hàm lượng chất hữu cơ trong đất và độ thấm nước của đất, giảm thoát nước tốt hơn trong các trận mưa lớn, đồng thời làm giảm sự bốc hơi khi lượng mưa giảm. Các phương pháp này và các phương pháp khác như  tỉa cành tạo tán, ghép chồi Robusta trên gốcc và phê mít (Excelca), trồng cà phê xen với cây che bóng, ủ phân vi sinh và sử dụng các công nghệ sau thu hoạch đơn giản như sử dụng máy sấy bằng năng lượng mặt trời sẽ làm tăng tổng sản lượng cà phê thêm 40% trong 3 năm thực hiện dự án với một số nông dân đạt sản lượng tăng thêm 1,7  tấn/ha

Tại sao họ lại không làm như vậy ở Philipin, nơi mà trong 26 năm qua, nền kinh tế quốc dân đã chi tới 4 tỷ đô la Mỹ để nhập khẩu cà phê mà thực ra, họ có thể đã sản xuất được , để đáp ứng  nhu cầu trong nước và tạo ra hàng nghìn việc làm cho người nông dân địa phương? Các cây cà phê điển hình hiện nay ở Philipin nói chung là già cỗi và cao tới 5 mét đòi hỏi phải có thang để thu hoạch với một năng suất rất khiêm tốn vào khoảng   0,3 tấn nhân / ha. Việc tập huấn cho nông dân và hỗ trợ tái canh đã có thể hoàn toàn thay đổi tình hình.

“Nhưng  điều quan trọng nhất là vẫn còn rất nhiều đất ở Philippines, đang chờ đợi những người nông dân trồng cà phê đến”

Ví dụ, các trang trại  trồng dừa ở miền nam Mindanao hoàn toàn phù hợp để trồng xen với Robusta. Việc trồng các giống năng suất cao và áp dụng các biện pháp nông nghiệp tốt có thể biến đất nước này từ một nhà nhập khẩu cà phê thành một trong những nhà sản xuất cà phê quy mô lớn ở Đông Nam Á.

Dĩ nhiên, điều đó sẽ cần đến sự tài trợ. Rất nhiều nhà hoạch định chính sách từ khu vực nhà nước và tư nhân vẫn tích cực đầu tư vào dòng cà phê truyền thống, nơi mà nông dân đã đạt được năng suất đến mức 3  tấn nhân mỗi ha, trong khi đó, để bù đắp sự thiếu hụt về nguồn cung sẽ là hợp lý hơn để bắt đầu đầu tư vào Indonesia và Philippines.  Để nhân rộng mô hình của HRNS ở Indonesia cho Philippines, Tiến sĩ Dave D’haeze ước tính, đất nước này phải cần tới 60 triệu đô la Mỹ để xây dựng một ngành cà phê bền vững và phát triển bùng nỗ trong thời gian 6 năm, có nghĩa là cần một khoản đầu tư hàng năm là 10 triệu đô la Mỹ. Điều này có vẻ khá khiêm tốn so với mức 4 tỷ USD đất nước  dành cho nhập khẩu cà phê trong suốt quãng thời gian 4 thập niên cuối  thế kỷ qua. Nếu họ tiếp tục áp dụng các thực hành canh tác tốt tại Indonesia, nơi mà lợi tức đầu tư cho các dự án HRNS ước tính đạt 211% trong giai đoạn 2014-2019, tăng tỷ lệ áp dụng các thực hành canh tác tốt  và tiếp tục tái canh như ở Việt Nam và nếu các nhà tài trợ ở cả khối công và tư bắt đầu đầu tư vào Philippines để tăng năng suất và tăng gấp ba diện tích cà phê hiện tại, ba con hổ của Đông Nam Á sẽ có thể làm tăng tổng sản lượng cà phê nhân lên 26 tới triệu bao.

“Hiệu quả của các mô hình quốc gia được phác thảo có thể sẽ được tăng cường với sự phát triển trong tương lai của sự trao đổi giữa các nước trong khu vực về chuyên môn cũng như các lĩnh vực kinh doanh và nghiên cứu”

“Không cần phải làm điều gì mới mẻ cả”, các nước chỉ cần cộng tác chia sẻ các phương pháp quy hoạch vùng sinh thái cho cây cà phê, tạo điều kiện cho các chính sách để phát triển một môi trường tạo ra  thu nhập, trao đổi và thử nghiệm các giống cà phê mới, hợp tác để phát triển lộ trình cà phê khu vực thay vì là các chiến lược cô lập, giới hạn ở mỗi quốc gia và nâng cao nhận thức của khu vực nhà nước đối với các khoản đầu tư vào các khu vực đang gặp khó khăn và không chỉ hướng tới giành được những mục tiêu dễ đạt được. Bằng cách đó, Đông Nam Á có thể trở thành người tiên phong hướng tới việc sản xuất cà phê phù hợp với nhu cầu toàn cầu ngày càng tăng.

Tầm nhìn về phát triển tiềm năng của ngành  cà phê châu Á đã được trình bày trong bài diễn văn của Tiến sĩ D’haeze đã làm tăng thêm sự quan tâm của các đại biểu tham dự hội nghị và giới truyền thông quốc tế (Bloomberg). Giám đốc Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), các nhà rang xay nước ngoài và các quan chức của chính phủ Việt Nam tiếp tục thảo luận về chủ đề này với Tiến sĩ D’haeze bên lề hội nghị.