Nếu kiến thức ở trường học được kiểm tra bằng các kỳ thi thì hiệu quả của các khóa đào tạo nông dân được đánh giá bằng tỷ lệ áp dụng. Một khóa đào tạo được coi là thành công không phải bởi vì có nhiều người tham dự mà là việc nông dân bắt đầu áp dụng thực tế các kỹ thuật họ đã học. Một trong những lý do khiến Hanns R. Neumann Stiftung có chính sách không trả phụ cấp cho nông dân tham gia tập huấn loại bỏ những người tham dự với mục đích là nhận quà hoặc phong bì mặc dù những người đó có thể sẽ làm tăng đáng kể tỷ lệ người tham gia tập huấn. Số lượng người tham dự lớn có thể gây ấn tượng, tuy nhiên các chuyên gia của HRNS tin rằng chỉ có những người nông dân thực sự có động lực cải thiện kiến thức và kỹ năng nông học của họ mới có thể đem đến tác động lâu dài trong ngành cà phê.

Trong những năm qua, Quỹ Neumann, Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (HRNS AP) đã đào tạo những người hưởng lợi bằng hình thức tổ chức các lớp học cho nông dân trên thực địa (FFS), vì đây dường như là cách phổ biến nhất để tiếp cận với các hộ gia đình nhỏ. Trong một lớp FFS truyền thống, tập huấn viên mời 25-30 nông dân và dành một buổi sáng để giúp nông dân tìm hiểu về một trong những chủ đề GAP (Thực hành nông nghiệp tốt) như tỉa cành, tưới, bón phân … Sau phần học lý thuyết, nông dân sẽ đi ra vườn cà phê để thực hành cùng nhau, và lớp học như vậy được giám sát bởi một tập huấn viên. Phương pháp này cho phép tiếp cận được số lượng nông dân lớn hơn nhưng các quan sát cho thấy hiệu quả và kết quả học tập có thể không cao như mong đợi

Để tăng hiệu quả của các khóa đào tạo, Ban quản lý Quỹ Neumann – Châu Á Thái Bình Dương đã đưa ra ý tưởng về một chuyển đổi mang tính đột phá, đó là thay đổi phương pháp tập huấn truyền thống là tổ chức các lớp học cho nông dân trên hiện trường (FFS) sang cách thăm từng hộ gia đình để tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các chuyên gia của chúng tôi chia sẻ các ý kiến của họ về phương pháp tiếp cận mới, được gọi là các chuyến thăm để huấn luyện cho từng hộ gia đình (FCV ).

Giám đốc Quỹ Neumann, Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, Tiến sỹ Dave D’haeze

Khi tập huấn cho nông dân, đối với chúng tôi, điều quan trọng nhất là phải đạt được tỷ lệ áp dụng cao. Chúng tôi đang hướng đến các tác động hữu hình trong tất cả các chương trình của mình. Trong  các lớp học nông dân trên hiện trường (FFS), một số nông dân  được bạn bè và hàng xóm thông báo về lớp học, họ có thể đến dự  nhưng không mấy quan tâm đến chủ đề cụ thể đó, vì vậy họ trở nên khá thụ động. Câu hỏi đặt ra là – có bao nhiêu kiến thức trong phần học lý thuyết họ thực sự áp dụng trong công việc hàng ngày của họ.

Đó là lý do tại sao chúng tôi có một quyết định mang tính đột phá là thay thế các lớp học nông dân truyền thống (FFS)   bằng phương pháp mà chúng tôi gọi là “Chuyến thăm huấn luyện cho hộ nông dân (FCV). Một trong những cách tập huấn của chúng tôi là đến thăm và cùng đi ra hiện trường với hộ gia đình để kiểm tra xem những điểm tốt và xác định những vấn đề mà nông dân cần được đào tạo thêm. Tất cả các tập huấn viên của chúng tôi đều được trang bị một bộ tranh khổ lớn, được sử dụng để giải thích các chủ đề lý thuyết cơ bản, liên quan đến các vấn đề và các giải pháp nông nghiệp khác nhau và họ cũng được trang bị một bộ công cụ, để họ có thể cùng với nông dân khắc phục các vấn đề xác định được.

FCV là một phương pháp “Nhất cử lưỡng tiện”.  Khi ở cùng với nông dân trên hiện trường, chúng tôi có thể truyền đạt được cho họ những kiến thức và kỹ năng rất thực tế. Nông dân có thể đặt thêm các câu hỏi mà chúng tôi phải cố gắng giải quyết. Nhưng trên hết, chúng tôi có thể thu thập được ngay các dữ liệu liên quan đế tỷ lệ áp dụng hàng ngày, cho phép chúng tôi giám sát được tiến độ tổng thể và hiệu quả của dự án. Nói về tỉ lệ tham gia tập huấn, chúng tôi hiểu rằng, với các lớp học nông dân trên hiện trường (FFS) truyền thống, tỉ lệ tham gia có thể đạt tới 80-90%. Tỉ lệ tham gia không phải là vấn đề, nhưng tỷ lệ áp dụng quả thật là rất khó đo lường. Cách tiếp cận mới là thăm hộ gia đình (FCV) đòi hỏi nhiều hơn. Nếu trong một lớp FFS, một tập huấn viên có thể cùng lúc tiếp cận được tới  25 nông dân, nhưng để tiếp cận với số lượng nông dân như vậy bằng phương pháp mới thì phải cần tới  ba đến  bốn ngày . Phương pháp mới đòi hỏi chúng tôi phải tăng cường thêm các chương trình Đào tạo Tiểu Giảng viên (TOT) và huy động thêm đội ngũ giảng viên để đạt được các mục tiêu đề ra.

Trong dự án Nước đang được thực hiện với sự hợp tác của Nestle và Cơ quan Phát triển và Hợp tác Thụy Sĩ hiện nay, chúng tôi có mục tiêu phải đào tạo được 30.000 nông dân, với  6 học phần về các Thực hành Canh tác Tốt ( GAP) trong 3 năm. Các chủ đề được giới thiệu theo chu kỳ hàng năm, bao gồm từ thực hành quản lý nước, đến bón phân, quản lý dịch hại và sâu bệnh, tỉa cành, thu hoạch, v.v. Trong giai đoạn đầu, chúng tôi đã đào tạo được cho mỗi tỉnh  25 tiểu giảng viên tại 5 tỉnh sản xuất cà phê chính ở Tây Nguyên, nhưng theo quan sát thì không phải tất cả mọi người trong số đó đều có năng lực và nguồn  thời gian như nhau- vì là những nông dân  hoặc cán bộ khuyến nông, họ cũng  phải chăm sóc các trang trại riêng hoặc  với các công việc thường xuyên khác – Chính vì thế, chúng tôi bắt đầu tổ chức thêm các khóa tập huấn cho những nông dân mới, trẻ hơn và có lòng nhiệt tình cao để mở rộng thêm đội ngũ tập huấn viên cùa chúng tôi.

Phản hồi đầu tiên từ nông dân là rất tích cực vì chưa bao giờ họ có cơ hội để có một “gia sư” đến tận vườn của họ để tập huấn và sau đó còn lưu lại số điện thoại để liên lạc khi có nhu cầu cần tư vấn . Chúng tôi làm việc rất chặt chẽ với các trung tâm khuyến nông và cán bộ trực tiếp tiếp cận với nông dân, vì vậy chương trình của chúng tôi vẫn linh hoạt trong việc tiếp cận những nông hộ nhỏ, những người cần được tập huấn về tất cả hoặc một số chủ đề liên quan đến Thực hành Nông nghiệp Tốt (GAP).

Giám đốc Quốc gia Quỹ Neumann tại Việt Nam, Ông Đỗ Thành Chung 

FFS luôn là một phương pháp đào tạo chính trong các dự án phát triển và chúng tôi cũng không phải là ngoại lệ. Tổ chức một lớp học với số lượng từ 20-30 người, chúng tôi có thể dạy cho họ các kiến thức về nông nghiệp, phát triển cộng đồng và các kỹ năng kinh doanh cơ bản. Tất nhiên, việc tiếp cận với hàng chục người thụ hưởng cùng một lúc là rất tốt, nhưng qua quan sát các buổi tập huấn, chúng tôi nhận thấy rằng không phải tất cả nông dân đều tham gia tích cực vào các chủ đề hoặc – nếu họ không theo kịp các buổi học lý thuyết  – họ cũng không dám yêu cầu tập huấn viên làm rõ. Trong các mô hình giáo dục truyền thống Việt Nam, học viên được cho là khiêm tốn khi biết im lặng.

Chúng tôi đi đến quyết định rằng việc tiếp cận trực tiếp với từng hộ gia đình sẽ làm tăng hiệu quả của các khóa đào tạo và chúng tôi đã chuyển đổi các lớp FFS thành phương pháp gọi là “Chuyến thăm huấn luyện cho nông dân” (FCV). Khi các tập huấn viên của chúng tôi trực tiếp đến các hộ gia đình, họ không chỉ có thể trao đổi trực tiếp các chủ đề cụ thể với nông dân, mà còn hoàn toàn kiểm soát và đo lường được tỷ lệ học viên áp dụng các kiến thức và kỹ năng được học.  Một điều khác cũng quan trọng là sự hợp tác và tin tưởng giữa những người thực hiện dự án và nông dân đã được cải thiện đáng kể.

Hiện tại có hơn 150 tập huấn viên đang làm việc trong dự án của chúng tôi tại năm tỉnh của Tây Nguyên. Một tập huấn viên có thể thăm 5 hộ mỗi ngày. Nếu chúng tôi huy động thêm 100 người nữa, có nghĩa là sẽ có thêm 700 hộ gia đình được thăm mỗi ngày và như vậy sẽ có 14.000 nông dân được đào tạo trong một tháng. Dựa trên tính toán này, chúng tôi tin rằng tham vọng của dự án là tiếp cận 180.000 hộ nông dân trong ba năm đầu tiên của dự án là hoàn toàn có thể thực hiện được. Trong các chuyến thăm từng hộ gia đình như vậy, chúng tôi thu thập dữ liệu của từng nông dân về mức sống của họ, về môi trường, các vấn đề kinh tế và quan trọng nhất là các kỹ thuật nông nghiệp mà họ áp dụng.

FCV là một công cụ đa năng cho chúng tôi. Thứ nhất, chúng tôi tổ chức được các khóa đào tạo về GAP cho nông dân dưới một hình thức hiệu quả hơn FFS. Thứ hai, chúng tôi giám sát được tỷ lệ áp dụng và thu thập được các ý kiến phản hồi từ nông dân, cho phép chúng tôi nhanh chóng thích ứng và có các điều chỉnh cần thiết cho các khóa đào tạo. Và cuối cùng, chúng tôi giám sát được tình hình kinh tế của nông dân, xác định được các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu, các vấn đề xã hội và môi trường v.v mà họ phải đối phó, giúp họ lập các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn.

Ông Thu, Tập huấn viên ở xã Cư Né

Tôi đã tham gia Dự án với tư cách là một tập huấn luyện viên từ năm 2015 và theo ý kiến của tôi, cả FFS và FCV đều có ưu và nhược điểm của nó . Hai năm trước đây, chúng tôi chỉ sử dụng phương pháp FFS và tôi phải thừa nhận nó rất thuận tiện cho người huấn luyện. Việc tập trung được một vài chục người ở một nơi tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức cho việc đi lại và tổ chức các buổi học. Song, tôi không thể nào biết được học viên đã học được bao nhiêu kiến thức và họ áp dụng các kiến thức được học cho vườn cà phê của họ ở mức độ nào.

Năm ngoái (2017) tôi được hướng dẫn thực hiện các buổi FCV riêng lẻ tại nhà của nông dân. Tôi nhanh chóng nhận thấy rằng kết quả học tập đã tăng lên gần 100%. Khi bạn đang trực tiếp tập huấn cho một người nào đó thì họ sẽ không e ngại hỏi bạn bất cứ vấn đề gì mà họ chưa nắm rõ – điều này lại không thường xảy ra ở lớp FFS, nơi trước đông người, một số người quá nhút nhát, không dám hỏi – trong các buổi FCV, tôi có thể chắc chắn rằng, ở phần thực hành, tôi có thể sửa cho họ tất cả những lỗi có thể xảy ra, vì vậy họ tự tin để bắt đầu áp dụng kỹ thuật được học trong thực tế . Đồng thời, tất cả học viên của chúng tôi là nông dân nên ban ngày, hầu hết họ bận rộn với các công việc đồng áng, đó là lý do tại sao sắp xếp các chuyến thăm huấn luyện cho nông dân cá nhân khó khăn hơn nhiều so với việc tập trung 25 người ở một nơi vào một ngày thứ Bảy chẳng hạn. Tôi cũng cần lập kế hoạch thời gian của mình – một số nông dân sống khá xa nơi tôi ở. Điều thường xảy ra là khi tôi rảnh – họ lại bận và ngược lại. Ví dụ, họ đề nghị học vào thời gian buổi tối, nhưng tôi chỉ có thể thăm được 1-2 hộ khi trời tối ở ngoài đồng. Với tất cả những điều đó, tôi phải thừa nhận rằng mỗi buổi thăm hộ gia đình như vậy đều đảm bảo kết quả tốt, trong khi ở các lớp FFS, dù người hướng dẫn có cố gắng thế nào đi chăng nữa, một số nông dân tập trung học và một số thì không mà tôi không thể làm gì được.

Khi thời gian  cho phép, tôi có thể thăm được 20 hộ trong một tuần. Song, rất không may là, có một vài tuần tôi quá bận với các công việc ở trang trại và những việc khác nữa nên tôi hầu như không có đủ thời gian để thăm và tập huấn cho các hộ gia đình. Công việc của tôi trong HRNS cũng chỉ là công việc phụ, không phải là thu nhập chính. Nếu các tập huấn viên được Dự án trả cho mức lương ổn định thì họ mới có thể tuân thủ một cách nghiêm ngặt các yêu cầu và thực hiện số lần thặm hộ theo quy định. Với tình hình như hiện nay, tôi rất khó có thể đạt được số lầ thăm 30 hộ mỗi tháng.

Nếu một nông dân gọi cho tôi và yêu cầu giúp đỡ tư vấn về một chủ đề cụ thể nào đó, tôi luôn luôn sẵn sàng. Trong thực tế, tôi có hàng chục người thân, hàng xóm và bạn bè thường xuyên yêu cầu được tư vấn và điều đó không có nghĩa tôi chỉ nói chuyện với họ qua điện thoại mà còn phải đến tận vườn của họ. Tôi không được Dự án trả công cho những chuyến thăm ngoài kế hoạch như vậy nhưng tôi vẫn làm vì mọi người cần sự giúp đỡ và tôi có thể cho họ những lời khuyên của người có chuyên môn. Rất tiếc là, chúng tôi không có thêm bất kỳ chương trình đào tạo Tiểu Giảng viên (TOT) nào khác tại Cư Né mà chỉ có Dự án của HRNS mới đào tạo được các chuyên gia có đủ điều kiện để tập huấn cho nông dân.