Tôi tên là Châu. Năm 2010, tôi được thừa hưởng trang trại cà phê của cha mẹ chúng tôi, nơi ông bà đã bắt đầu canh tác cà phê từ năm 1994. Đó là truyền thống của gia đình tôi. Trở lại những ngày ông bà tôi làm việc trên đồn điền cà phê của Pháp. Đó là nơi ông bà đã học về trồng cà phê và truyền kiến ​​thức cho các thế hệ tiếp theo. Chúng tôi là người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc gọi là dân tộc Dao, di cư đến Đắk Lắk năm 1954 để làm việc tại các đồn điền của Pháp. Kể từ đó tất cả người Dao trong khu vực của chúng tôi đều là những người trồng cà phê.

Chúng tôi nói tiếng Dao mặc dù những người hàng xóm của chúng tôi không chỉ là người Dao mà còn là người Kinh và Êđê. Trong gia đình chúng tôi nói ngôn ngữ riêng của chúng tôi nhưng trong đa số các giao tiếp với cộng đồng ở địa phương thuộc các dân tộc khác, chúng tôi sử dụng tiếng Việt. Bố tôi vẫn nhớ tiếng Hoa, ngôn ngữ mà người Dao vẫn học tập theo  truyền thống, và chúng tôi vẫn mặc các trang phục truyền thống cho những dịp đặc biệt. Khi ông bà tôi chuyển đến ngôi làng này vào những năm 1954, cả gia đình sống trong một túp lều nhỏ bằng gỗ có một góc bếp luôn đỏ lửa. Vào những năm 1990, chúng tôi đã xây được một ngôi nhà lớn bên cạnh ngôi nhà cũ. Như nhiều người Việt Nam khác, chúng tôi tin rằng tổ tiên phù hộ cho cuộc sống của chúng tôi nơi trần thế nên chúng tôi làm một bàn thờ để tưởng nhớ họ.

Từ năm 1954 khi ông bà tôi di cư từ miền Bắc vào trồng cà phê cho các đồn điền Pháp ở Tây Nguyên cho đến năm 1996 thì người ta chỉ xử lý  cỏ dại và diệt côn trùng bằng tay. Thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm chỉ được người nông dân sử dụng rộng rãi từ sau năm 1996. Ông bà tôi có khoảng 10 hécta đất.

Sau đó, những mảnh đất đó đã được truyền lại cho các thế hệ và mỗi thành viên trong gia đình chúng tôi được thừa kế một vài héc-ta đất. Hiện tại, cha mẹ tôi có khoảng 5-6 ha cà phê, tôi và các anh chị em của tôi cũng có diện tích cà phê xấp xỉ như thế . Mọi công việc hầu hết được chia sẻ giữa các thành viên trong gia đình; chúng tôi chỉ thuê thêm nhân công vào mùa cao điểm như mùa thu hoạch. Ban đầu người Pháp trồng Arabica ở đây và phải mãi tới năm 1987, Robusta mới bắt đầu được trồng ở vùng đất này. Song, trồng Arabica ở khu vực của chúng tôi là cực kỳ khó khăn do khí hậu và đất đai không thích hợp và do đó sản lượng không cao.

Dần dần, nông dân chuyển sang trồng cà phê Robusta sau năm 1987 và Arabica đã được chuyển đến các vùng có địa hình cao hơn như các tỉnh Lâm Đồng và Đăk Nông, nơi có các điều kiện thuận lợi hơn.

Tôi tích lũy được kinh nghiệm trồng cà phê từ bố mẹ tôi và cũng từ các chương trình đào tạo của Hanns R. Neumann Stiftung. Cách đây ba năm, tôi đã tham dự một dự án của HRNS tập trung vào phát triển cà phê bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tôi đã học được rất nhiều các kỹ thuật nông nghiệp như tưới tiêu, cắt tỉa, bón phân, ủ phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp, kiểm soát dịch bệnh, thu hoạch và chế biến.

Khi trở về tôi chia sẻ kiến ​​thức đó với những người hàng xóm của tôi. Chúng tôi ngay lập tức nhìn thấy hiệu quả. Những kỹ thuật này đã giúp chúng tôi tiết kiệm được các chi phí cho việc tưới và phân bón. Theo truyền thống, người dân ở đây đã sử dụng nhiều nước và phân bón hơn mức cần thiết của cây. Họ cũng đã không áp dụng đúng kỹ thuật khi thu hoạch. Các chương trình tập huấn của HRNS đã giúp chúng tôi giảm được các chi phí cho phân bón và thuốc trừ sâu, giảm được chi phí nhân công và lượng khí thải carbon.

Chúng tôi bắt đầu nhận ra rằng một lượng nước lớn mà chúng tôi đã sử dụng để tưới cà phê trước đây là hoàn toàn lãng phí

Những lượng nước dư thừa đó không phải tự nhiên có, sẽ phải có một lượng lớn khí nhà kính phát thải do ta phải sử dụng nhiều nhiên liệu hơn để bơm lượng nước dư thừa đó. Một điều quan trọng khác mà tôi học được từ các khóa học và chia sẻ với người làng là việc sử dụng cây che phủ để làm giảm lượng nước bốc hơi từ đất trong mùa nắng. Và chúng tôi thấy rằng việc trồng cây che bóng có thể giúp cây cà phê tránh được ánh nắng mặt trời ở cường độ cao và giảm tác động của xói mòn do gió gây ra. Tôi đang nói về các loại cây trồng xen như sầu riêng, bơ, mít, tiêu và một số loại cây khác. Chúng không chỉ có tác dụng che bóng cho cây cà phê mà còn tạo ra những khoản thu nhập bổ sung cho gia đình.

Mặc dù trước đây đã có nhiều kinh nghiệm nhưng sau khi được HRNS đào tạo, tôi đã nhận thấy rằng việc trồng  cà phê trở nên bền vững hơn và có lợi nhuận cao hơn. Thu nhập gia đình tôi đã ổn định và chúng tôi không còn phải lo lắng về năng suất lên xuống thất thường hay cà phê bị giảm chất lượng do ẩm mốc như trong những năm trước đây. Nhưng sự thay đổi quan trọng nhất đó là việc thành lập một hợp tác xã trong xã của tôi. Vào năm 2015 với sự hỗ trợ của HRNS, tôi cùng với một nhóm nông dân quốc tế đã được tham gia Hội nghị “Thức ăn chậm” do Lavazza tổ chức ở Milan. Ở đó, tôi đã có dịp tìm hiểu về cách khởi nghiệp của những nông dân trẻ trồng cà phê trên khắp thế giới.

Khi trở lại Việt Nam, tôi đã nghĩ: “Tại sao dân làng chúng tôi không tổ chức thành một hợp tác xã. Giao dịch riêng lẻ với thương lái, người nông dân buộc phải bán cà phê ở mức giá thấp nhất. Nhưng nếu đoàn kết, chúng tôi sẽ kiểm soát được chất lượng hạt cà phê của mình và bán cà phê với số lượng lớn trực tiếp cho các thương lái lớn và tránh được trung gian ”

Một cách nào đó, trường hợp của tôi là rất đặc biệt. Không giống như các nông dân khác ở địa phương, tôi đã được HRNS đào tạo và đã có cơ hội để củng cố kiến ​​thức trong lĩnh vực canh tác cà phê qua chuyến đi Ý.

Khi thành lập hợp tác xã tôi đã nhận thức được rằng tôi sẽ không chỉ gặp những thuận lợi mà còn phải đối mặt với cả các khó khăn. Để thành công, cần phải có sự kết hợp của ý chí, kiến ​​thức và cả may mắn nữa. Đó cũng là cá tính của tôi. Tôi khá bảo thủ, nhưng cũng linh hoạt. Khi tôi gặp trở ngại, tôi dừng lại và lùi lại để nhận thức rõ tình hình và xem xét các giải pháp. Và sau đó tiếp tục tiến lên phía trước bằng cách sử dụng các chiến thuật và chiến lược khác nhau đã được cập nhật. Ngày nay, toàn bộ ngành cà phê bị ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu. Chúng ta cần phải thích ứng liên tục và đơn giản là không có lựa chọn nào khác cho nông dân mà phải tiếp tục học hỏi và nâng cao kiến ​​thức về thời tiết và những biến động của nó. Khi lập kế hoạch kinh tế cho ngành cà phê, từ hộ gia đình đến các hợp tác xã, cho đến các chính sách của chính phủ đều phải tính đến các tác động của biến đổi khí hậu.

Các con tôi rất có thể cũng sẽ tiếp tục trồng cà phê. Tuy nhiên, chúng sẽ sử dụng các phương pháp mới mà tôi học được từ chương trình HRNS vì những điều này đã chứng minh được hiệu quả. Tất cả các trang trại cà phê trong làng của chúng tôi tới bây giờ là các trang trại bền vững. Tôi đang lên kế hoạch để làm cho trang trại cà phê của cha mẹ tôi hoàn toàn bền vững trong 10 năm tới. Tôi bắt đầu thực hiện từ năm 2014 sau khi tham dự các khoá đào tạo của HRNS.

Trước hết, tôi trồng cây che bóng xen canh với cà phê và chuyển sang các phương pháp tưới tiêu và bón phân có hiệu quả cao nhất. Những biện pháp này đã làm cho năng suất và sản lượng tổng thể của trang trại bền vững hơn – chúng tôi đã không phải chịu những biến động lớn về thu nhập theo mùa. Đồng thời, hợp tác xã tổ chức bán cà phê nhân, cố gắng luôn đạt tiêu chuẩn cao để có được giá tốt hơn. Nếu sau 10 năm sau nữa, các chương trình HRNS không còn tồn tại ở Việt Nam, chúng tôi vẫn có thể học hỏi những kiến thức mới từ các trung tâm khuyến nông địa phương và bản thân tôi cũng cảm thấy tự tin khi hướng dẫn những nông dân trong vùng về biến đổi khí hậu và những cách họ có thể đối phó thành công với biến đổi khí hậu.