Tôi tên là Y B’Lang, hiện sống tại huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk. Vào cuối thế kỷ qua, những người nông dân ở thôn Cư Né chỉ trồng lúa và rau. Chúng tôi khó có thể cung cấp đủ lương thực cho gia đình. Ngày ấy, chúng tôi chỉ có xe đạp là phương tiện duy nhất để đi lại. Tôi trồng một lô có 100 cây cà phê đầu tiên vào năm 1994. Đất đai thì màu mỡ, nhưng kiến ​​thức của tôi lại rất ít. Tôi không thấy việc trồng cà phê có khả năng mang lại nhiều thu nhập cho đến năm 1998, khi tôi tham dự các cuộc hội thảo do trung tâm khuyến nông tổ chức tại địa phương.

“Năm 1998 cà phê hoàn toàn làm thay đổi nền kinh tế của chúng tôi, đặc biệt là vào giai đoạn đầu khi giá cà phê cao.”

Chúng tôi đã bắt đầu có tiền để mua được thức ăn ngon hơn, mua được phân bón và thuốc trừ sâu cho vườn cây, mua máy cày, đường ống và vòi phun để tưới. Sau đó, đột nhiên vào năm 2001 cà phê mất giá và chúng tôi phải vật lộn với khó khăn trong một vài năm. Nhưng sau đó, giá cả đã được phục hồi. Rất nhiều nông dân đã chuyển sang trồng thuần cà phê vì nó đã chứng tỏ là loại cây trồng có khả năng sinh lợi cao nhất, bất chấp tất cả các biến động về giá cả. Một số nông dân khác bắt đầu trồng cà phê khá muộn, vào khoảng năm 2010, nhưng do được tập huấn một cách đầy đủ họ đã nhanh chóng gặt hái được thành công. Tôi phải nói rằng, cà phê đã là một kẻ thay đổi luật chơi về kinh tế ở khu vực của chúng tôi.

Tuy nhiên, vẫn còn có những vấn đề. Chúng tôi thường có vấn đề với cây giống và phải tốn thời gian và tiền bạc để lựa chọn các giống khác cho đến khi chúng tôi phát hiện ra cây giống Ea K’Mat. Năng suất của chúng tôi đã ổn định. Vào thời gian đó, chúng tôi đã có rất nhiều nước để sử dụng. Nhưng vì có nhiều người trong số chúng tôi đã mở rộng diện tích trồng cà phê làm cho nước trở nên khan hiếm. Chỉ có những nông dân có thể tiếp cận với nguồn nước tưới và áp dụng các biện pháp canh tác  thích hợp thì có thể đạt được năng suất đến 5 tấn  nhân/ ha, so với năng suất 2-3 tấn / ha trước đây.

Ba năm trước, tôi đã tham dự các lớp học nông dân được Quỹ Neumann (HRNS) tổ chức trên hiện trường (FFS) và từ đó tôi liên tục học về trồng cà phê. Ngay cả những điều dường như rất đơn giản như khoảng cách giữa các cây cũng có thể ảnh hưởng lớn đến năng suất. Trước đây, chúng tôi trồng các cây cách nhau 2-2,5 mét, nhưng qua các lớp học này, chúng tôi được giải thích rằng với khoảng cách đó các cành của cây này và cây khác sẽ bị đan vào nhau khi cây 1-2 tuổi, và năng suất cà phê sẽ giảm khi cây đạt 4-5 tuổi . Bây giờ tôi giữ khoảng cách được khuyến cáo là từ 3-3,5 mét và điều đó đã tạo ra sự khác biệt lớn. Việc tỉa cành cũng quan trọng để tiết kiệm nhiều năng lượng cho các nhánh cây khỏe mạnh.

“Và việc tưới tiêu cũng không phải hoàn toàn đơn giản như chúng tôi đã nghĩ – Lần tưới đầu tiên là quan trọng nhất và phải được thực hiện vào đúng thời điểm của giai đoạn hoa nở.”

Nói về thủy lợi, một số nông dân may mắn được sống gần các hồ chứa nước mặt – họ có thể thực hiện các khuyến nghị trong cuốn Cẩm nang Sản xuất Cà phê Bền vững, nhưng những người khác sống xa nguồn nước lại phải vật lộn rất nhiều. Họ không thể áp dụng các phương pháp tưới chính xác ngay cả khi họ biết rõ các phương pháp này. Đôi khi, họ phải tưới một cách bất thường không theo lịch nào cả và có những khi họ chỉ có đủ nước tưới một nửa diện tích vườn của mình.

Gần đây tôi đã bắt đầu tiến hành trồng xen như được khuyến cáo khi tham dự các lớp học nông dân trên hiện trường (FFS). Tôi trồng một ít cây tiêu để làm giống, và tôi cũng trồng thêm một số cây sầu riêng, bơ và nghệ trong vườn. Củ nghệ là một loại cây nhỏ nhưng có giá tốt trên thị trường.

Năm nay, HRNS đã chuyển phương pháp tập huấn từ các lớp học tập trung trên đồng ruộng (FFS) sang hình thức thăm và tư vấn cho từng hộ (FCV). Cả hai hình thức tập huấn này đều mang lại lợi ích. Nó phụ thuộc vào kích cỡ của trang trại. Các trang trại nhỏ với diện tích 1 ha có thể kiểm soát được dễ dàng hơn. Nếu người nông dân có thể tiếp cận với nguồn nước, có thể mua được thiết bị và thường xuyên đến các lớp FFS để học về kỹ thuật trồng cà phê thì sẽ thành công và chỉ cần dành thời gian để thực hành các kỹ thuật đã được học. Nếu có điều gì đó không rõ ràng, họ luôn có cuốn Cẩm nang Sản xuất Cà phê Bền vững để tham khảo. Mặt khác, đối với các trang trại lớn hơn – ví dụ như trong trong trường hợp của tôi – cần phải thuê những lao động ngoài- những người có rất ít hiểu biết về các phương pháp canh tác, thì tôi phải tự đào tạo họ. Đó là lý do tại sao phương pháp FCV hiệu quả hơn với tôi. Trước hết, tôi luôn luôn có thể ngắt lời giảng viên của tôi và yêu cầu họ giải thích. Thứ hai, khi chúng tôi đi thực địa, thì chỉ có tôi và giảng viên- người giám sát và chỉnh sửa cho những sai lầm của tôi.